Kvant
Khác

Loại phóng xạ mới — phóng xạ proton

Bản dịch máy từ tiếng Nga. Chưa được người kiểm tra. Bản gốc →

57

TIN TỨC VẬT LÍ

Một loại phóng xạ mới — phóng xạ proton

Cho đến nay đã biết bốn loại phân rã phóng xạ. Phân rã β xảy ra kèm theo sự phát ra electron (phân rã β⁻) hoặc positron (phân rã β⁺); phân rã α xảy ra kèm theo sự phát ra các hạt α, còn phân rã γ là sự phát ra các lượng tử ánh sáng có năng lượng lớn. Có thể bổ sung vào đây sự phân hạch hạt nhân (tự phát — như người ta nói, phân hạch tự phát), được các nhà vật lí Xô viết Flerov và Petrzhak phát hiện năm 1940, trong đó hạt nhân nặng (urani, plutoni v.v.) vỡ thành hai.

Cuối năm 1970, người ta đã phát hiện thêm một loại phân rã nữa — phóng xạ proton, sự tồn tại của nó đã được viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô V. I. Goldansky dự đoán. Hoạt tính proton được Cherny cùng một nhóm các nhà vật lí Anh và Mĩ phát hiện.

Đồng vị cobalt có số khối 53 tỏ ra có hoạt tính proton. Hạt nhân của đồng vị này chứa 27 proton và 26 neutron. Đồng vị đang phân rã ở trạng thái kích thích — năng lượng của nó lớn hơn mức bình thường khoảng 3 MeV (1MeV=1 triệu electron volt=1,6·10⁻⁶erg=1,6·10⁻¹³J).

53 Со phân rã, biến thành đồng vị sắt có số khối 52: 53Со→52Fe+proton

53Со(m)chữ m có nghĩa là cobalt bị kích thích và ở trạng thái siêu bền) sống trung bình khoảng 0,3 giây. Đồng vị cobalt có hoạt tính proton thu được khi bắn phá bia calcium bằng các hạt nhân oxygen:

40Ca+16O=53Co+2 neutron +1 proton

và khi bắn phá sắt bằng proton

54Fe+p=53Co+2 neutron Năng lượng của các proton bay ra là 1,6 MeV.

Điểm sách, thư mục

Nếu bạn cần tính toán điều gì đó…

Trong cuộc sống của chúng ta, nhu cầu như vậy có thể nảy sinh khá thường xuyên và không phải lúc nào cũng cần nhờ đến máy tính điện tử. Nhưng nếu phải tự tính, thì nhất định sẽ gặp các bảng.

Có thể tin chắc rằng trong hầu như mọi trường hợp, để tính toán chỉ cần dùng “Bảng toán học bốn chữ số” của L. S. Khrenov, được Nhà xuất bản “Giáo dục” xuất bản năm 1967 làm tài liệu hướng dẫn cho giáo viên.

Ngoài các bảng số, tác giả còn đưa ra cách trình bày ngắn gọn “Các quy tắc tính gần đúng”. Trong đó có các định nghĩa cơ bản, quy tắc thực hiện phép tính với các số gần đúng và phép nội suy, các khuyến nghị về trình tự thực hiện tính toán. Tuy điều đó khó, tác giả đã thành công trong việc vừa ngắn gọn, chính xác và rõ ràng. “Giải thích các bảng” cũng được viết tốt như vậy.

Nội dung chính của cuốn sách là các bảng giá trị rõ ràng của những hàm sơ cấp cơ bản, quen thuộc với học sinh trung học và thường gặp trong tính toán. Sách cũng đưa ra những bảng nhỏ về số nguyên tố, bảng hệ số nhị thức và biểu diễn các phân số tối giản dưới dạng thập phân.

Các bảng của L. S. Khrenov có thể hoàn toàn được khuyến nghị vừa như tài liệu học tập cho học sinh, vừa như tài liệu cho các tính toán đại trà.

R. S. Guter