Bản dịch máy từ tiếng Nga (gpt-5.6-terra). Chưa được người kiểm tra. Bản gốc →
48
Hình 4.
Không cần chọn lọc chính xác các kính lọc ánh sáng. Các kính lọc trong bộ dụng cụ học đường hoàn toàn thích hợp. Hãy in tiếp xúc các bản dương lên phim. Đặt các ảnh dương thu được vào hai máy chiếu và chiếu các ảnh dương lên màn sao cho các đường viền của hình ảnh trùng khít chính xác. Trước vật kính của máy chiếu có đặt ảnh dương chụp qua kính lọc đỏ, hãy đặt kính lọc đỏ, còn hình ảnh thứ hai để đen trắng (hình 4). Bạn sẽ thấy một hình ảnh màu với toàn bộ sự phong phú của màu sắc, mặc dù bạn chỉ chiếu hình ảnh đỏ và đen trắng với sự phân bố sáng tối khác nhau. Mọi nghiên cứu khách quan về ánh sáng phản xạ từ các chỗ khác nhau của màn chỉ cho màu đỏ với mức độ tinh khiết hoặc độ bão hòa khác nhau. Cảm giác về màu sắc trong trường hợp này hoàn toàn chủ quan. Tốt hơn nên bật các máy chiếu qua biến áp tự ngẫu (hình 4), để có thể điều chỉnh độc lập độ chiếu sáng mà mỗi máy tạo ra trên màn. Thông thường, cảm giác tái tạo màu đúng nhất xuất hiện khi độ chiếu sáng của màn nhỏ.
Như vậy, đơn giản và rất đầy những điều bí ẩn và câu đố.
Tính trơn của băng
Một nhà vật lý Anh đã thú nhận trên báo in rằng chúng ta đã quá quen với tính trơn của băng, đến nỗi nếu trước khi chính ông suy nghĩ về vấn đề này người ta tình cờ hỏi ông vì sao băng trơn, ông sẽ trả lời: “vì nó trơn”, và chỉ sau khi suy nghĩ mới đi đến lời giải thích đúng.
Ở những chỗ chân đè lên băng hoặc tuyết, chúng dưới tác dụng của áp suất do trọng lượng cơ thể gây ra sẽ tan chảy, — và giữa chân với mặt đất hình thành một lớp chất bôi trơn lỏng, làm giảm đáng kể lực ma sát và khiến tuyết và băng trơn, như mặt vỉa hè trơn khi phủ một lớp bùn lỏng. Khi chân rời chỗ, chất bôi trơn ấy lại đông lại, tạo thành dấu băng trên tuyết.
Rõ ràng vấn đề không nằm ở mức độ nhẵn, vì băng gồ ghề và lồi lõm nhất hầu như còn trơn hơn băng nhẵn như gương, — bởi ở loại sau diện tích tiếp xúc với chân lớn hơn, và do đó áp suất của chân lên băng nhỏ hơn.
Nói chung, áp suất của cơ thể lên băng càng tập trung trên diện tích nhỏ và nhiệt độ của băng càng ít thấp, thì băng càng phải trơn. Vì vậy, đi giày trượt có thể trượt từ dốc xa hơn là không đi giày trượt, và trượt giày càng dễ khi nhiệt độ càng gần 0°. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 0°, băng trở nên xốp, ít nhất ở các lớp trên, và giày trượt lún quá sâu vào băng. Còn trong những đợt rét lớn, giày trượt như dính vào băng: chất bôi trơn lỏng hình thành rất ít, và nó đông lại trước khi chân kịp rời chỗ.
Giáo sư B. Weinberg.
“Tuyết, sương giá, mưa đá, băng và sông băng”, 1919.