Kvant

Bản dịch tự động sơ bộ, chất lượng thấp: có thể còn lỗi và câu chữ chưa tự nhiên. Bản này sẽ được thay bằng bản dịch tốt hơn. Bản gốc →

24

khối lượng theo giờ mm trên bề mặt Trái đất và khối lượng Trái đất M3M_3 bằng
mg=γM3mR32,mg = \gamma \frac{M_3 m}{R_3^2},
trong đó R3R_3 là bán kính Trái đất, γ\gamma là ranh giới không đổi. Từ đây
g=γM3R32.g = \gamma \frac{M_3}{R_3^2}.
Nếu không yêu cầu độ chính xác cao thì các giá trị M3M_3 và R3R_3 có thể được biểu thị thông qua số lượng nucleon N3N_3 trong thành phần của Trái đất. Lớp vỏ Trái đất được cấu tạo chủ yếu từ SiO2_2 (A=60A = 60) và lõi của nó được cấu tạo chủ yếu từ sắt (A=57A = 57). Hai chất này có trọng lượng nguyên tử xấp xỉ nhau nên có cùng kích thước nguyên tử. Nếu coi bán kính nguyên tử bằng aa thì thể tích Trái Đất sẽ bằng
43πR33=43πN3Aa3,\frac{4}{3} \pi R_3^3 = \frac{4}{3} \pi \frac{N_3}{A} a^3,
Ở đâu
R3=a(N3A)1/3.R_3 = a \left(\frac{N_3}{A}\right)^{1/3}.
Thay thế điều này vào biểu thức (5), chúng ta nhận được
g=γM3R32=γN3mpR32=γN3(AN3)2/3mpa2.g = \gamma \frac{M_3}{R_3^2} = \gamma \frac{N_3 m_p}{R_3^2} = \gamma N_3 \left(\frac{A}{N_3}\right)^{2/3} \frac{m_p}{a^2}.
Bán kính nguyên tử của chất rắn gần đúng bằng a=fa0a = f a_0, trong đó a0a_0 là bán kính của nguyên tử hydro và giá trị của hệ số ff nằm trong khoảng 1–4. Như vậy,
g=γN3(AN3)2/3m7(fa0)2.g = \gamma N_3 \left(\frac{A}{N_3}\right)^{2/3} \frac{m_7}{(f a_0)^2}.
Trong biểu thức này, hằng số không phổ quát là số nucleon N3N_3 trong thành phần của Trái đất *).

*) Khi đánh giá chiều cao của các ngọn núi trên các hành tinh khác, các giá trị AA và N3N_3 không thể được coi là phổ quát, vì thành phần của các nguyên tố trong đá hình thành nên các hành tinh này có thể khác với thành phần của Trái đất. (Lời khuyên của người dịch.)

BÀI TOÁN HÌNH HỌC

Chứng minh rằng tổng các khoảng cách (trong hình CE + CF) từ một đỉnh (C) bất kỳ của tam giác đến các điểm tiếp xúc của các đường tròn ngoại hình tính từ cạnh bên,

đi qua đỉnh này bằng tam giác (AB=cAB=c).

S. N. Fedin

VỀ ĐIỆN

Ở Glasgow (Scotland) và Moscow có một giai thoại mà người Anh cho là của nhà vật lý nổi tiếng người Anh Lord Kelvin, còn người Moscow thì cho là của giáo sư Nikolai Alekseevich Umov của Đại học Moscow.

Trong kỳ thi, Umov, Jacob hỏi học sinh: “Điện là gì?” Suy nghĩ hồi lâu, cậu sinh viên trả lời: “Xin lỗi giáo sư, em quên mất. Sáng nay em làm rồi, bây giờ em quên mất.”
“Đây, các quý ông,” Umov nói với các sinh viên khác, “là bi kịch lớn nhất của vật lý thế kỷ 19: người duy nhất trên thế giới biết điện là gì, và thậm chí anh ta còn quên mất!”